(GDVN) - Vô hình trung những câu nói như vậy của hai thầy Tổng chủ biên sẽ cản bước những người muốn đóng góp, phản biện cho việc thay sách giáo khoa.

LTS: Xung quanh đề xuất đưa tác phẩm Chí Phèo ra khỏi sách giáo khoa Ngữ văn 11 đã có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau.

Tác giả Nguyễn Nguyên, một thầy giáo dạy văn ở bậc học phổ thông đã gửi đến Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam bài viết thể hiện góc nhìn của mình về cách tiếp cận và phê phán vấn đề.

Tòa soạn trân trọng mời quý bạn đọc theo dõi bài viết này, nội dung và văn phong thể hiện quan điểm và góc nhìn của tác giả.

Anh Nguyễn Sóng Hiền - một nghiên cứu sinh Trường Đại học Newcastle (Australia), gửi tới Báo Điện tử Vietnamnet bài viết đặt vấn đề không nên tiếp tục dạy tác phẩm "Chí Phèo" trong chương trình phổ thông.

Ý kiến của anh Hiền đã ngay lập tức trở thành đề tài tranh luận của nhiều người, đặc biệt là các thầy cô giáo đang giảng dạy, nghiên cứu bộ môn Ngữ văn. 

Có một số ý kiến đồng tình với anh Sóng Hiền nhưng có vô vàn những ý kiến phản bác, không đồng tình.

Anh Nguyễn Sóng Hiền, ảnh: Báo Lao Động.

Trong vô vàn những ý kiến như vậy, chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến những ý kiến của giáo sư Nguyễn Minh Thuyết và phó giáo sư Đỗ Ngọc Thống.

Giáo sư Nguyễn Minh Thuyết - Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới, ảnh: Xuân Trung

Sự lưu tâm của chúng tôi không chỉ bởi hai thầy đều là những người có học hàm, học vị cao, có vị thế trong giới nghiên cứu khoa học nước nhà;

Quan trọng hơn là hiện nay cả hai thầy đều đảm nhận một vai trò quan trong việc thay đổi chương trình, sách giáo khoa mới. 

Thầy Nguyễn Minh Thuyết là Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, còn thầy Đỗ Ngọc Thống là Tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn mới.

PGS.TS. Đỗ Ngọc Thống là Tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn mới

Phản biện học thuật phi học thuật

Trước “sự kiện” của anh Nguyễn Sóng Hiền đưa ra ý kiến nên đưa tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao ra khỏi chương trình Ngữ văn lớp 11, thầy Nguyễn Minh Thuyết đã đưa ra ý kiến ngắn gọn: 

"Đây là một ý kiến non nớt, thô thiển, không đáng để dư luận và báo chí quan tâm bàn cãi" [1]. 

Khi trao đổi với thầy Đỗ Ngọc Thống, thầy Nguyễn Minh Thuyết đã phàn nàn: “Không hiểu sao bây giờ lắm kẻ muốn đốt đền quá” [2]. 

Và thầy Đỗ Ngọc Thống thì nêu quan điểm: 

“Với tôi bài viết ấy không đáng bàn, vì hiểu về tác phẩm Chí Phèo như thế chứng tỏ trình độ tiếp nhận tác phẩm văn học của người viết rất thấp” [2].

Trước khi có ý kiến về những bình luận của thầy Nguyễn Minh Thuyết và thầy Đỗ Ngọc Thống, chúng tôi muốn nói thêm về nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của nhà văn Nam Cao.

Chúng tôi cho rằng đây là một ví dụ điển hình về sự khác biệt trong góc nhìn, nhận thức, quan điểm cần được tôn trọng, khi tác giả miêu tả Thị Nở xấu “ma chê quỷ hờn” lại “đần độn, dở hơi”, nhưng Chí Phèo vẫn yêu.

Nam Cao tôn trọng tình yêu ấy.

Dưới ngòi bút của mình, nhà văn Nam Cao đã miêu tả thị Nở như sau: 

“Một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn.

Cái mặt thị thực là sự mỉa mai của hóa công: nó ngắn đến nỗi người ta có thể tưởng bề ngang hơn bề dài, thể mà hai má lại hóp vào mới thật là tai hại, nếu má phinh phính thì mặt thị lại còn hao hao như mặt lợn, là thứ mặt vốn nhiều hơn người ta tưởng trên cổ người. 

Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh như muốn chen lấn với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi; có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nẻ như rạn ra  có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra. 

Ðã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày thêm, cũng may quyết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách. Ðã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được một vài phần cho sự xấu. 

Ðã thế thị lại dở hơi; đó là một ân huệ đặc biệt của Thượng đế chí công; nếu sáng suốt thì người đàn bà ấy sẽ khổ sở ngay từ khi mua cái gương thứ nhất.” [3]

Thôi thì, ta cứ cho rằng lúc Chí Phèo trở về nhà trong trạng thái say mèm thì mối tình với Thị Nở chỉ là chuyện một đêm đã đành. 

Nhưng mấy ngày sau đó, Chí không say nữa, Chí đã tỉnh, đã nhận biết được mọi hoạt động đang diễn ra xung quanh mình vậy mà Chí vẫn yêu Thị Nở một cách đắm say. 

Vậy chắc hẳn Thị Nở phải đẹp ở trong lòng Chí Phèo.

Mặc ai chê bai, ghẻ lánh Thị Nở, Chí vẫn nhìn thấy nét đẹp trong con người Thị Nở. Chí thích Thị Nở, chỉ đơn giản thế thôi. 

Người lớn đang nghĩ thay, nói thay và làm thay học sinh?

Tác phẩm Chí Phèo từ lâu đã trở thành một tượng đài sừng sững trong kho tàng văn học nước nhà, xứng đáng là một kiệt tác của dòng văn học hiện thực phê phán. 

Chính vì thế, khi ý kiến của anh Nguyễn Sóng Hiền đưa ra bị nhiều người phản bác là chuyện rất đỗi bình thường.

Thế nhưng bên cạnh vẫn có những quan điểm ủng hộ và xem đây là một đề xuất cần được lưu tâm trong bối cảnh dạy và học Văn hiện nay.

Là một độc giả và cũng là một giáo viên đang giảng dạy môn Ngữ văn ở trường phổ thông nên chúng tôi có phần băn khoăn về những ý kiến của thầy Nguyễn Minh Thuyết và thầy Đỗ Ngọc Thống. 

Băn khoăn không phải ở chỗ chúng tôi đồng tình với đề xuất của anh Hiền, mà bởi lời nhận xét của hai thầy về anh Nguyễn Sóng Hiền khiến chúng tôi buồn man mác.

Theo thầy Đỗ Ngọc Thống, “dự thảo Chương trình Ngữ văn mới đã hoàn thành, chuẩn bị đưa lên mạng xin ý kiến rộng rãi”

Đã "xin ý kiến rộng rãi" thì chắc chắn phải chấp nhận có khen, có chê, có đồng tình, có phản bác. Nếu thực sự có thành ý "xin ý kiến rộng rãi", chí ít các thầy cũng nên lắng nghe, đừng vội phản bác bằng những lời giàu cảm xúc.

Và điều này cũng đồng nghĩa với việc một khi đã lấy ý rộng rãi của dư luận thì chắc chắn sẽ có người ý kiến như thế này, người như thế khác. 

Có người sẽ đồng tình với 6 tác phẩm bắt buộc mà ban soạn thảo đưa ra và chắc chắn cũng có người sẽ không đồng tình. 

Ý kiến của anh Nguyễn Sóng Hiền dù khác biệt với số đông, nhưng cũng nên lắng nghe và tìm hiểu xem tại sao anh ấy đưa ra đề xuất này.

Trong bài phỏng vấn của Báo Dân Trí mà chúng tôi có dẫn ở đây, anh Hiền trần tình rằng dư luận đã hiểu sai ý mình. 

Anh không phủ nhận giá trị văn học của tác phẩm Chí Phèo, mà cái anh hướng tới là đối tượng giáo dục - các em học sinh phổ thông trong xã hội hiện đại liệu đã đủ sẵn sàng đón nhận những tác phẩm như vậy? 

Nói cách khác, cái anh Hiền quan tâm là đặc điểm tâm lý, đặc điểm xã hội của học sinh phổ thông và các nhà biên soạn sách giáo khoa cần có nghiên cứu kỹ lưỡng các đặc điểm này để lựa chọn, giới thiệu các tác phẩm phù hợp.

“Học sinh là trung tâm” từ lâu đã trở thành câu cửa miệng.

Nhưng các nhà hoạch định chính sách giáo dục, biên soạn chương trình sách giáo khoa đã có nghiên cứu nào đối với học sinh phổ thông xem các em mong muốn điều gì, yêu thích điều gì và không thích điều gì hay chưa?

Điều này đặc biệt quan trọng và cần thiết với tất cả các môn học, và với môn Văn lại càng quan trọng, cấp thiết hơn, bởi chúng ta vẫn nói Văn là Người.

Văn học liên quan đến sự cảm thụ cái đẹp, cái thiện, đến góc nhìn của mỗi cá nhân về xã hội, cuộc sống.

Những ngày qua các ý kiến tranh luận mới là của người lớn, chưa phải của các em học sinh.

Cho nên những đề xuất của anh Nguyễn Sóng Hiền thiết nghĩ cần được ghi nhận và xem xét một cách thấu đáo dưới góc độ tâm lý giáo dục, chứ không phải phân tích một tác phẩm văn học.

Nhân đề xuất của anh Hiền, chúng tôi đề nghị các nhà biên soạn chương trình, sách giáo khoa hãy công bố các kết quả nghiên cứu tâm lý giáo dục liên quan đến chương trình sách giáo khoa.

Hãy tìm cách hiểu trẻ em, hiểu học sinh trước khi viết sách cho các em.

Chúng tôi cũng mong sao có nhiều nhà nghiên cứu tâm lý giáo dục lên tiếng, để chúng tôi được hiểu thêm tâm lý, mong muốn của trẻ em, của học sinh, thay vì người lớn ngồi tranh cãi. 

Vài lời góp ý về văn hóa phản biện

Nhưng hai thầy Tổng chủ biên lại khiến những ai muốn góp ý với các thầy phải cân nhắc, đắn đo. 

Bởi nếu ý kiến khác các thầy, biết đâu lại được thêm vào danh sách “kẻ đốt đền”, “non nớt, thô thiển”“trình độ tiếp nhận tác phẩm văn học của người viết rất thấp” như anh Nguyễn Sóng Hiền đang phải gánh chịu?

Chúng ta hãy đọc lại những lời tự sự của thầy Thống- Tổng chủ biên chương trình môn Ngữ văn mới khi trả lời phỏng vấn của Báo Điện tử Vietnamnet: 

“Tối hôm qua, giáo sư Nguyễn Minh Thuyết (Tổng chủ biên chương trình giáo dục phổ thông tổng thể) có phàn nàn với tôi rằng: “Không hiểu sao bây giờ lắm kẻ muốn đốt đền quá”. 

Tôi nói: Đốt đền cũng có năm bảy loại, có loại cố tình đốt đền để nổi tiếng, có loại chỉ là do vụng về, ngớ ngẩn mà làm cháy đền”. 

Rồi thầy Thống đi đến đánh giá, nhận định về bài viết và trình độ của anh Nguyễn Sóng Hiền: 

“Với tôi, bài viết ấy không đáng bàn, vì hiểu về tác phẩm Chí Phèo như thế chứng tỏ trình độ tiếp nhận tác phẩm văn học của người viết rất thấp”. 

Cùng quan điểm với thầy Thống, thầy Thuyết chỉ nói một câu ngắn gọn khi trả lời phỏng vấn Báo Dân trí như sau: 

"Đây là một ý kiến non nớt, thô thiển, không đáng để dư luận và báo chí quan tâm bàn cãi".

Có lẽ khi đọc được những ý kiến đánh giá của những “cây đa, cây đề” về mình như vậy thì anh Nguyễn Sóng Hiền sẽ bị tổn thương nhiều lắm.

Vô hình trung những câu nói như vậy của hai thầy Tổng chủ biên sẽ cản bước những người muốn đóng góp, phản biện cho việc thay sách giáo khoa trong thời gian tới.

Trong chương trình sách giáo khoa mới tới đây, tác phẩm Chí Phèo không phải là 1 trong 6 tác phẩm bắt buộc của chương trình Ngữ văn cấp phổ thông.

Điều này cũng đồng nghĩa với quyền lựa chọn của giáo viên và học trò. 

Vì thế, theo chúng tôi những đề xuất của anh Nguyễn Sóng Hiền dù có “nghịch tai” đối với đa số người lớn chúng ta, nhưng biết đâu học trò sẽ có lựa chọn khác điều chúng ta vẫn nghĩ?

Đây vẫn là một vấn đề cần được lưu tâm.

Viết đến đây, chúng tôi lại nghĩ đến bài viết Lời cảnh cáo các nhà học phiệt của thầy Đoàn Lê Giang, giảng viên trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, đăng trên Báo Tuổi trẻ gần đây. 

Trong bài viết này, thầy Giang có dẫn lại câu chuyện học giả Phan Khôi như sau:

“Năm 1930, trên Phụ Nữ Tân Văn (số 62 ngày 24-7), Phan Khôi lúc bấy giờ mới hơn 40 tuổi đã viết bài Cảnh cáo các nhà “học phiệt” nhắm tới Phạm Quỳnh, một học giả lừng danh bấy giờ.

Ông viết: “Học phiệt” là “Hạng người ấy ỷ có học rộng, tri thức nhiều, văn hay, trí thuật cũng khá, rồi tự coi mình như là bậc “thầy”, chẳng kể dư luận ra chi.

Đã hay rằng mình giỏi, song thế nào cho khỏi sự sai lầm, vậy mà họ tự phụ quá, cứ mạt sát hết.

Ừ, cái dư luận nào không chánh đáng, họ mạt sát chẳng nói làm chi; cái nầy, khi người ta công kích họ một cách chánh đáng, mà họ cũng làm thinh.

Làm thinh, không phải tỏ ra là họ phục; nhưng làm thinh, tỏ ra là họ không thèm nói với, thế mới đáng ghét.

Tôi dâng cho họ cái huy hiệu “học phiệt”, lấy nghĩa rằng họ có ý kế nghiệp nhau mà chuyên quyền trong học giới, cũng như bọn “quân phiệt”, đã nối nhau mà chiếm cứ đất đai và quyền chánh trị bên Tàu” [4]. 

Chúng tôi không có ẩn ý gì, ngoài mong muốn những ý kiến trao đổi học thuật xin hãy giữ sự thuần túy học thuật và đều được lắng nghe, tôn trọng. 

Ở chừng mực nào đó, mỗi chúng ta đều có thể tự biến mình thành "kẻ học phiệt" lúc nào không hay, nếu những ý kiến phản biện khoa học vượt quá ranh giới của khoa học.

Muốn giáo dục thực sự phát triển, những người làm giáo dục phải học cách lắng nghe, tôn trọng các quan điểm khác biệt, tìm kiếm đồng thuận bằng lập luận khoa học, tinh thần khách quan và thái độ cầu thị.

Những miệt thị trên mạng xã hội thời gian qua xung quanh công trình khoa học của Phó giáo sư Bùi Hiền thiết nghĩ đã đủ để chúng ta nhìn lại cách ứng xử giữa con người với con người trong xã hội hiện nay.

Nếu chúng ta cứ mặc nhiên chấp nhận cách phản biện học thuật bằng lời lẽ phi học thuật nhưng lại thừa cảm xúc, công khai hoặc mang hàm ý miệt thị người khác ý kiến với mình, thì chuyện trò đánh thầy, con giết cha hay giải quyết tranh chấp bằng nắm đấm, con dao sẽ không còn là chuyện hiếm trong xã hội.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://dantri.com.vn/giao-duc-khuyen-hoc/gs-nguyen-minh-thuyet-loai-bo-chi-pheo-khoi-sgk-la-y-kien-tho-thien-khong-dang-ban-20171207110947374.htm

[2]http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/nguoi-thay/chi-pheo-se-xuat-hien-trong-chuong-trinh-ngu-van-moi-ra-sao-415160.html

[3] Truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao

[4]https://tuoitre.vn/loi-canh-cao-cac-nha-hoc-phiet-1382197.htm

Quang Điệp
Nguồn: Nguyễn Nguyên (giaoduc.net.vn)

Sự thấu cảm phụ thuộc vào một lý trí tỉnh táo cũng như một trái tim nồng nhiệt.

Sherlock đã đúng - một nghiên cứu mới cho thấy khi nhìn nhận sự việc từ vị trí của người khác ta sẽ có một óc phán đoán độc lập chứ không chỉ có một trái tim nồng nhiệt.

Điều đầu tiên bạn nghĩ tới là gì khi nghe đến Sherlock Holmes? Có thể là chiếc mũ thợ săn, cái tẩu thuốc hoặc một cái violin, hay những tội ác bí ẩn trên các đường phố sương mù ở London. Rất có thể không phải là trái tim bao la ấm áp và bản tính hào phóng của ông. Trên thực tế, có thể bạn nghĩ ông là một người lạnh lùng - người mà sẽ nói với người bạn thân nhất đang chìm đắm trong tình yêu rằng ‘đó là một thứ cảm xúc và bất cứ điều gì là cảm xúc đều đối lập với lý trí tỉnh táo mà tôi cho là quan trọng hơn tất cả’. Có lẽ bạn có thể bị ảnh hưởng bởi những tác phẩm phóng tác gần đây, đã đi quá xa trong việc coi Holmes là một người ‘rối loạn nhân cách’.

Có đúng là Holmes không hề có sự thấu cảm (empathy)? Hay ông ta là người như nào?

Hãy trở về thời điểm trong truyện ‘Ngọn lửa bạc’ (năm 1892), câu chuyện về những chú ngựa đua dũng cảm đã biến mất và huấn luyện viên của chúng được tìm thấy đã chết chỉ vài ngày trước một cuộc đua lớn. Cảnh sát rất bối rối và Sherlock Holmes được gọi đến để tìm ra nguyên nhân. Ông đã tìm ra nguyên nhân bằng cách đặt mình vào vị trí của cả huấn luyện viên đã chết và những con ngựa bị mất tích. Holmes phỏng đoán rằng ngựa là 'một sinh vật rất thích giao du’. Giả định rằng khi không có huấn luyện viên đám ngựa có thể chạy đến thị trấn gần nhất, ông đã tìm thấy dấu vết của những con ngựa, ông bảo bác sỹ Watson dẫn ông tới đó. ‘Hãy xem giá trị của trí tưởng tượng ... Chúng ta tưởng tượng ra những gì có thể đã xảy ra, hành động theo giả thiết đó và sau đó kiểm nghiệm giả thiết.’

Holmes có một trí tưởng tượng quá xuất sắc, không chỉ đặt bản thân vào vị trí của một người, mà còn đặt mình vào vị trí của loại động vật. Cách đặt mình vào vị trí của người/vật khác để có thể nhìn thế giới từ quan điểm của người khác là một trong những yếu tố trung tâm của sự thấu cảm mà Holmes đã nâng lên thành nghệ thuật.Thông thường, khi chúng ta nghĩ về sự thấu cảm, nó gợi lên cảm giác ấm áp và thoải mái, trở về bản chất là một hiện tượng cảm xúc. Nhưng có lẽ sự hiểu biết của chúng ta về sự thấu cảm là không đủ. Giá trị của sự thấu cảm cũng có thể không thật như "giá trị của trí tưởng tượng" mà Holmes sử dụng trong việc tìm hiểu cảm xúc của người khác. Có lẽ sự duy lý lạnh lùng của Sherlock Holmes giúp chúng ta xem xét lại định kiến của chúng ta về định nghĩa và tác dụng của sự thấu cảm.

Mặc dù các tài liệu khoa học về sự thấu cảm rất phức tạp, một đánh giá gần đây trên tạp chí Nature Neuroscience bởi một nhóm các nhà nghiên cứu từ Đại học Harvard và Columbia, bao gồm Jamil Zaki và Kevin Ochsner đã phân chia hiện tượng này thành ba giai đoạn trung tâm. Giai đoạn đầu tiên là "chia sẻ trải nghiệm", hoặc cảm nhận những cảm xúc của người khác như thể chúng là của mình - sợ hãi khi họ sợ hãi, hạnh phúc khi họ hạnh phúc v.v. Giai đoạn thứ hai là 'ý thức' tức là xem xét những cảm xúc và nguyên nhân dẫn đến cảm xúc đấy một cách có ý thức và cố gắng hiểu chúng. Giai đoạn cuối cùng là ‘quan tâm đến xã hội’ hay bị thúc đẩy hành động - ví dụ, muốn tiếp cận với sự đau đớn của người khác. Tuy nhiên, bạn không cần có tất cả ba điều này cùng một lúc để trải nghiệm sự thấu cảm. Thay vào đó, bạn có thể xem chúng là ba điểm trong quá trình thấu cảm: đầu tiên, bạn cảm nhận; sau đó, bạn cảm nhận và bạn hiểu; cuối cùng, bạn cảm nhận, hiểu và bắt buộc phải hành động dựa trên sự hiểu biết của bạn. Có vẻ như điều chắc chắn ở đây là tất cả các giai đoạn đều phải có ‘sự cảm nhận’.

'Cảm xúc là đối lập với lý luận khoa học.

Tôi thề với bạn rằng người phụ nữ quyến rũ nhất

mà tôi từng biết đã bị treo cổ vì đầu độc ba đứa trẻ'

‘Sự cảm thông’ có lịch sử lâu đời - trong tiếng Hy Lạp cổ đại, sympatheia có nghĩa đen là ‘với sự đau khổ' – nhưng từ ' thấu cảm' mới chỉ được sử dụng phổ biến trong thời hiện đại. Từ này được đưa ra bởi các nhà tâm lý học nhận thức người Anh Edward Titchener vào cuối năm 1909, ông viết rằng “Không chỉ làm tôi thấy sự hấp dẫn và sự khiêm tốn và lòng tự hào và sự nhã nhặn và sự ổn định, mà tôi cảm thấy hoặc thực hành nó trong tâm trí”. Đối với Titchener, sự thấu cảm là một loại ‘cảm nhận’ trạng thái cảm xúc của người khác.

Ngay sau đó, từ này đã được sử dụng bởi các nhà tâm lý trị liệu tâm thần như Carl Rogers, một nhà tâm lý học người Mỹ và là người sáng lập ra cách tiếp cận nhân văn, người đã viết trong cuốn sách Client-centred Therapy (1951) của ông rằng những nhà trị liệu cần ‘sống với cuộc sống của người khác’. Nhưng trong khi thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi gần đây – năm 1984 nhà phân tâm học Stanley Olinick gọi nó là một ‘từ thịnh hành’ - nó tồn tại trong một khoảng thời gian dài tương đối vô định; linh hoạt trong định nghĩa và cách sử dụng.

Năm 1986, nhà tâm lý học Lauren Wispé cố gắng để tóm tắt lại khái niệm sự thấu cảm một cách có hệ thống. Bà viết ‘tất nhiên, câu hỏi quan trọng là tại sao con người lại bị thôi thúc có sự cảm thông hay sự thấu cảm, dưới những điều kiện gì và cho ai’. Mặc dù cam kết có một cái nhìn mới, khách quan đối với khái niệm này, bà định nghĩa sự thấu cảm ban đầu dựa trên một cảm giác, một sự ép buộc: chúng ta bị thôi thúc, dưới những điều kiện thích hợp và với những người thích hợp ngay trong tầm tay. Khả năng chúng ta có thể không bị thôi thúc, thay vào đó chúng ta có thể chọn để suy nghĩ và hành động vì lợi ích của người khác mà không có sự thúc đẩy của yếu tố cảm xúc, không được xem xét đến.

Nhưng điều này có nhất thiết là chính xác? Cơ sở của sự thấu cảm là có thể nhìn sự việc từ vị trí của người khác. Thấu cảm cho phép chúng ta ‘tiến một bước dài bằng đôi chân của người khác’, nhìn thế giới qua con mắt của người khác hoặc bất kỳ một khẩu hiệu sáo rỗng nào khác. Nhưng quan điểm kiểu như đứng ở vị trí của người khác để cảm nhận nỗi đau của họ dường như quá thiên về cảm xúc, đôi khi nó thực sự không cần thiết. Một nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng, có những lúc việc quá xúc động thực sự bóp nghẹt khả năng thấu cảm của chúng ta.

Bạn có tưởng tượng ra được một tính cách vô cùng thấu cảm - nhưng hoàn toàn không cảm xúc? Tôi nghĩ rằng, chỉ có thể là một người hoàn toàn không có cảm xúc như tôi đã nhắc đến ở trên: Sherlock Holmes, nhân vật thám tử vĩ đại nhất thế giới. Holmes lạnh lùng và logic. Holmes độc lập. Như ông giải thích khi Watson nhận xét về sự hấp dẫn và thánh thiện của một phụ nữ trẻ, ‘Điều quan trọng nhất là không cho phép phán đoán của bạn bị ảnh hưởng bởi những đặc điểm cá nhân’. Ông giải thích tầm quan trọng của việc loại bỏ những cảm xúc riêng của bản thân ra khỏi sự tính toán của ông : ‘Đối với tôi khách hàng là một đơn vị đơn thuần, là một yếu tố trong một vấn đề. Những yếu tố cảm xúc đối lập lý luận chặt chẽ. Tôi thề với bạn rằng người phụ nữ quyến rũ nhất mà tôi từng biết đã bị treo cổ vì đầu độc ba đứa con để lấy tiền bảo hiểm và người đàn ông khó chịu nhất trong số người quen của tôi là một nhà từ thiện đã dành gần một phần tư triệu bảng cho người nghèo ở London’.

Dường như Holmes là một cái máy giải quyết vấn đề chứ không phải là một con người. Nhưng ông cũng là một người có trí sáng tạo không tưởng. Ông không dừng lại ở bề nổi của sự kiện. Ông đưa ra nhiều khả năng, vẽ ra nhiều tuyến đường khác nhau, liên tục lắp ráp những sự kiện thực tế vào để tìm ra phương án đúng nhất. Cách thức của ông đối lập với kiểu lập luận theo một đường thẳng. Nếu ông chỉ có một cách tiếp cận thì ông cũng không thể giỏi hơn thanh tra Lestrade hay thám tử Gregson - những người của sở cảnh sát Scotland Yard chỉ luôn theo một lối mòn lập luận mà không có trí tưởng tượng.

Khi loại bỏ cảm xúc trong sự thấu cảm của mình, Holmes thực sự làm cho nó mạnh hơn:

một ý thức hợp lý, chứ không phải một sự xúc động phù phiếm.

Trên thực tế, sự thành công của ông bắt nguồn từ tư duy tưởng tượng phong phú, khả năng đưa ra các giả thuyết như thể ông có mặt tại hiện trường. Trong cuốn Thung lũng khủng khiếp (năm 1915), truyện về Sherlock Holmes cuối cùng của Conan Doyle, trong đó thanh tra MacDonald, hay Mac như Holmes trìu mến gọi ông, lúng túng với những sự chỉ dẫn rõ ràng - tìm kiếm một người đi xe đạp bị mất tích, theo dõi các khách sạn và các nhà ga, nói chung là làm mọi thứ một thám tử nhiệt tình có thể làm. Thay vào đó Holmes yêu cầu ở một đêm trong căn phòng xảy ra vụ án. Tại sao? Mơ màng trong bầu không khí tội ác xảy ra giúp ông nhìn thấy thế giới như tên tội phạm đã thấy, để suy nghĩ xem liệu tên tội phạm đã làm gì. Trí tưởng tượng là trung tâm trong năng lực suy luận của ông.

Holmes là chuyên gia trong việc thực hiện bước đầu của sự thấu cảm – nhìn thế giới từ vị trí của người khác. Ông có khả năng thấu hiểu bản chất bên trong của con người, xem xét và phân tích bản chất đó và bày tỏ những mối quan tâm đến xã hội. Trên thực tế, ông là bậc thầy trong việc này. Vào cuối truyện ‘Chàng quý tộc độc thân’ (năm 1892), chính Holmes chứ không phải Watson hiểu rõ nhất động cơ của người kỵ sĩ. Watson nhận xét châm biếm rằng ‘hành vi của anh ta không nhã nhặn’. Holmes trả lời với một nụ cười: “Ah, Watson, có lẽ anh cũng sẽ không nhã nhặn được nếu anh bị cướp mất vợ và tài sản sau tất cả những rắc rối của việc tán tỉnh và cưới xin. Tôi nghĩ rằng chúng ta nên cám ơn chúa vì chúng ta sẽ không bao giờ ở trong hoàn cảnh tương tự”.

Holmes chắc chắn sẽ lấy lý lẽ rằng việc không có cảm xúc giúp ông tự do phán đoán mà không định kiến. Theo một nghiên cứu gần đây thì điều này là đúng. Hầu hết chúng ta bắt đầu nhìn nhận sự việc một cách khá ích kỷ/chủ quan: chúng ta nhận thức sự việc như chúng ta nhìn thấy và sau đó chúng ta khái quát quan điểm của mình, áp đặt lên cả những sự việc khác. Nhưng chúng ta lại không giỏi trong việc này. Khái niệm ‘sự tham chiếu và điều chỉnh chủ quan’ đã được nghiên cứu rộng rãi bởi các nhà tâm lý học Nicholas Epley của Đại học Chicago và Thomas Gilovich của Đại học Cornell. Ngay cả khi chúng ta biết rằng lý lịch người khác không giống chúng ta và chúng ta nên thận trọng với các giả định rằng mình có thể hiểu được hoàn cảnh của họ như thể mình cũng ở trong hoàn cảnh như vậy, chúng ta vẫn không thể thoát khỏi những định kiến ​​của bản thân trong việc đánh giá người khác. Chúng ta càng được rèn luyện nhiều về tinh thần thì chúng ta càng trở nên tệ hơn trong việc điều chỉnh quan điểm chủ quan của mình sao cho phù hợp với cái nhìn của người khác đối với thế giới. Gilovich gọi điều này là 'thoả mãn'. Chúng ta không làm được gì nhiều để điều chỉnh quan điểm của chúng ta phù hợp với quan điểm của người khác. Chúng ta hài lòng với những thứ gần đủ. Có lẽ hệ thống thần kinh của chúng ta có thể phản ánh sự đau khổ của người khá nhưng phần lớn chỉ vì chúng ta lo lắng việc chúng ta sẽ cảm thấy thế nào.

Nhưng Holmes thì không như vậy. Bởi vì ông đã rèn luyện vất vả để giảm những cảm xúc bột phát ban đầu đối với mọi người, ông hoàn thiện sự điều chỉnh của mình, có khả năng suy đoán ra sự thật từ những hoàn cảnh khác nhau. Từ đó ông trở nên ít chủ quan hơn, phản ánh chính xác hơn những gì mà người khác nghĩ và trải qua tại một thời điểm nhất định.

Holmes gần như đọc được chính xác tính cách của người khác, ý tưởng bất chợt của họ, động cơ của họ và cảm xúc bên trong của họ. Ông cố gắng hiểu rõ và mở lòng đối với tất cả những dấu hiệu ông bắt gặp. Như ông đã viết trong bài luận của mình về sự quan sát: ‘Con người bộc lộ tính cách qua đặc điểm của móng tay, cổ áo, giầy, đầu gối quần, chai ở ngón trỏ và ngón cái, sự lúng túng hay cổ tay áo sơ mi’. Trong nỗ lực của chúng ta để hiểu người khác, chúng ta thường xem nhẹ những chi tiết vụn vặt - tại sao lại bận tâm tới những điều nhỏ nhặt như vậy trong khi đang cần tìm hiểu về cảm xúc, tình cảm, cuộc sống? Nhưng bỏ qua những chi tiết nhỏ nhặt, chúng ta bỏ lỡ những bằng chứng quan trọng. Chúng ta bỏ lỡ những dấu hiệu của sự khác biệt có nghĩa là chúng ta đã không xem xét kỹ tình huống. Chúng ta bỏ mất nền tảng của trí tưởng tượng trong tương lai. Chúng ta sẽ trở nên thấu cảm nhiều hơn hay ít hơn khi làm như vậy? Sự thấu cảm dường như không chỉ đơn giản là cảm xúc vội vã, nếu chỉ như vậy thì nó không phải là một thước đo hoàn toàn đáng tin cậy đối với thế giới nội tâm của người khác.

Simon Baron-Cohen, giáo sư về sự phát triển của rối loạn tâm lý tại Oxford và nổi tiếng với công trình về tự kỷ, đã phân biệt giữa hai yếu tố của sự thấu cảm. Sự thấu cảm về tình cảm, đó là thành phần cảm xúc. Và có sự thấu cảm về nhận thức, hay khả năng suy nghĩ như đặt mình ở vị trí của người khác. Dựa trên việc có một lý thuyết hữu ích về tâm lý, sự thấu cảm về nhận thức cung cấp một đối trọng quan trọng với cảm xúc. Nhưng có phải cả hai yếu tố này luôn đi cùng nhau? Chúng ta có thể tin vào việc chỉ hoàn toàn là sự thấu cảm về nhận thức chứ không có một chút cảm xúc nào?

Câu hỏi này không mới. Năm 1963 trong nghiên cứu về sự thấu cảm và thứ tự phát sinh, các nhà tâm lý học Ezra Stotland và Robert Dunn đã phân biệt "tính logic" và "tính cảm xúc" của sự thấu cảm với những người giống nhau và khác nhau. Trước tiên là thực hành để đạt được quan điểm về nhận thức, sau đó là sự lan truyền của những cảm xúc phi lý. Gần đây hơn, Baron-Cohen đã nhận xét rằng, một vài người có chứng rối loạn tự kỷ có thể không hiểu hoặc không có ý thức, nhưng họ hoàn toàn có khả năng thấu cảm (về mặt cảm xúc) khi trạng thái cảm xúc của người khác xuất hiện rõ ràng trước họ - đây là một dấu hiệu chỉ ra rằng dường như hai yếu tố nhận thức và cảm xúc có phần độc lập.

Sự thấu cảm và sự sáng tạo có chung một đặc điểm rất quan trọng:

đó là chúng ta cần phải bỏ qua quan điểm của bản thân chúng ta.

Những nghiên cứu sinh lý dường như cũng chỉ ra điều này. Trong năm 2009, một nhóm các nhà tâm lý học từ trường Đại học Haifa nhận thấy những bệnh nhân có tổn thương não trước giữa trán thể hiện việc thiếu sự thấu cảm về nhận thức và lý thuyết tâm lý - đó là cạnh nhận thức của sự thấu cảm - trong khi họ vẫn có khả năng thấu cảm về cảm xúc và nhận biết cảm xúc. Ngược lại, những bệnh nhân có tổn thương ở các nếp của bộ não phần dưới trước trán có biểu hiện thiếu sự thấu cảm về mặt cảm xúc và sự nhận biết cảm xúc - nhưng sự thấu cảm về nhận thức của họ vẫn như người bình thường. Vậy có đúng là mỗi nhóm người này đồng cảm theo cách riêng của họ - một theo cảm xúc và một theo nhận thức?

Đối với hầu hết chúng ta, sự phân biệt giữa khía cạnh nhận thức và cảm xúc của sự thấu cảm dường như không quá rõ. Ngay cả trong trường hợp của Holmes: Conan Doyle là nhanh chóng cho chúng ta thấy rằng người hùng của ông cũng có sự thương cảm riêng, nhưng chúng được kiểm soát tốt, thậm chí dấu đi. Holmes cũng sẵn sàng bao che cho một tên tội phạm có mục đích tốt, ông nói rằng: “Tôi thà làm trái với luật pháp của nước Anh còn hơn với lương tâm của tôi" Và tình bạn của ông với Watson đôi khi làm ông mất vẻ lạnh lùng bề ngoài. “Anh không bị thương chứ, Watson? Vì Chúa, hãy nói rằng anh không bị thương!”. Ông kêu lên trong một lần hiếm hoi không kiềm chế được cảm xúc khi người bạn của mình bị bắn trong tập truyện ‘Ba người họ Garridebs’ (1924).

Không phải là Holmes không có cảm xúc thấu cảm, mà ông không cho phép chúng điều khiển hành động của mình. Thay vào đó, ông chỉ hành động khi nhận thức đồng tình với cảm xúc. Và nếu không? Cảm xúc sẽ bị bác bỏ. Nó không phải là về cảm xúc của Holmes mà về sự nắm bắt vấn đề, các giả thuyết về các khả năng có thể xảy ra là gốc rễ của trí tưởng tượng. Nói ngắn gọn, nó là về sự sáng tạo xuất phát từ tâm trí của riêng bạn - bất kể động lực đằng sau là gì thì nó vẫn xảy ra. Khi loại bỏ cảm xúc trong sự thấu cảm của mình, Holmes thực sự làm cho nó mạnh hơn: một ý thức hợp lý, chứ không phải một sự xúc động phù phiếm. Như Watson nhận xét: ‘Một ít bụi trong nhạc cụ, hay một vết nứt trong ống kính của Holmes, cũng sẽ không gây xáo trộn hơn một cảm xúc mạnh mẽ trong bản chất của ông’.

Khi nói về sự thấu cảm, những nhà tâm lý học như Daniel Batson, giáo sư tâm lý học xã hội tại Đại học Kansas và Frans de Waal, giáo sư về hành vi của động vật linh trưởng tại trường Đại học Emory, đã viện dẫn giá trị tiến hóa của nó như là một kỹ năng xã hội của động vật, cho dù là con người hay không. Cái gọi là tế bào thần kinh gương - động cơ tạo ra sự bắt chước ngay lập tức trong não của chúng ta khi chúng ta quan sát một người nào đó làm hay trải qua một cái gì đó - có vẻ chỉ ra nguồn gốc tiến hóa sâu xa của sự thấu cảm. Chúng ta không chỉ bắt chước lại những gì người khác làm, mà việc phản chiếu như vậy cũng giúp tương tác xã hội thông suốt, giúp chúng ta giúp đỡ lẫn nhau, và giúp chúng ta vượt qua những chướng ngại vật mà cản trở tính xã hội nếu chúng ta không có một khuynh hướng ủng hộ xã hội mạnh mẽ.

Nhưng phần nhận thức của sự thấu cảm hay lý thuyết về lý trí có tiến hóa giống như vậy không? Khả năng nhìn thế giới qua con mắt của người khác, để trải nghiệm mọi thứ một cách gián tiếp, ở nhiều cấp độ, là sự rèn luyện cho trí tưởng tượng kỳ diệu và đó là lý do cho phép Holmes có thể giải quyết hầu hết các vụ án, Einstein có thể tưởng tượng ra một thực tế không giống như bất kỳ cái gì chúng ta đã trải qua trước đây, và Picasso đã sáng tạo nghệ thuật khác với bất kỳ quan niệm nào về nghệ thuật trước đây.

Có một bước nhảy vọt về nhận thức sâu sắc mà chúng ta có thể thực hiện. Bắt đầu với tính vị kỷ và suy nghĩ thế giới như thể chỉ có bản thân mình. Nó đặt sự tập trung vào người khác và thế giới sinh ra là vì những người khác. Tách cảm xúc ra khỏi sự thấu cảm và bạn sẽ có khả năng phát triển lý luận logic và tư duy sáng tạo. Sự thấu cảm và sự sáng tạo có chung một đặc điểm rất quan trọng: đó là chúng ta cần phải bỏ qua quan điểm của bản thân chúng ta. Chúng ta phải nhìn thấy những khả năng có thể xảy ra chứ không chỉ nhìn sự việc trước mắt. Khả năng này sẽ được phát triển vượt xa thực tế đơn giản rằng một số tế bào thần kinh của chúng ta được kích hoạt khi chúng ta nhìn thấy một ai đó đau khổ - hoặc chúng ta cảm thấy cần phải giúp đỡ khi chúng ta động lòng với một người khác, là người thật hay nhân vật hư cấu.

Có lẽ không nên hoàn toàn loại bỏ yếu tố cảm xúc ra khỏi sự thấu cảm vì cảm xúc có thể phát triển thành một yếu tố thiết yếu trong sự sáng tạo và giải quyết vấn đề. Các yếu tố cảm xúc trong sự thấu cảm bản thân nó cũng có sự hạn chế. Nó thường chọn lọc và định kiến - chúng ta có xu hướng cảm thông hơn với những người mà chúng ta biết hoặc thấy họ giống chúng ta, hoặc chỉ đơn giản là khi chúng ta có đầu óc để bận tâm đến người khác. Sự thấu cảm có thể trở nên mạnh hơn và sáng tạo hơn trong hình thái nhận thức khi nó độc lập với bối cảnh và sự xúc động.

Sherlock Holmes có thể được mô tả như là người rất lạnh lùng, đó là sự thật. Nhưng bạn muốn ai đứng về phía bạn khi nói đến việc được đưa ra một tiếng nói công bằng, để được giúp đỡ khi sự giúp đỡ thật sự cần thiết, để biết rằng ai đó sẽ vượt ra ngoài tiếng gọi của trách nhiệm vì lợi ích của bạn, bất kể bạn là ai hay bạn làm gì? Tôi sẽ chọn một người có cái đầu lạnh như Holmes, người hiểu được những giới hạn của tình cảm con người, và người tìm cách ‘đại diện cho công lý’ bằng tất cả sức mạnh của ông.

Quang Điệp

Nguồn: Tamlyhoctoipham.com

Chung tay hỗ trợ trẻ em nghèo bệnh tim với chương trình "Trái tim cho em"

hoat dong xa hoi
Chương trình sẽ kéo dài đến hết ngày 15/7/2017 với cú pháp nhắn tin TTCE gửi 1409

VTV.vn - Mỗi tin nhắn được gửi sẽ góp 18.000 đồng vào Quỹ Tấm lòng Việt để giúp đỡ phẫu thuật cho các bệnh nhi dưới 16 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Nhân dịp 1/6 và hướng đến kỷ niệm 9 năm ra đời chương trình "Trái tim cho em". Với chủ đề "Viết tiếp ước mơ" từ ngày 15/5/2017, chương trình "Trái tim cho em" phối hợp với Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam triển khai hoạt động nhắn tin ủng hộ kinh phí mổ tim cho trẻ em nghèo mắc bệnh tim bẩm sinh trên đầu số 1409 của Cổng thông tin nhân đạo quốc gia. Chương trình sẽ kéo dài đến hết ngày 15/7/2017 với cú pháp nhắn tin TTCE gửi 1409. Mỗi tin nhắn được gửi sẽ góp 18.000 đồng vào Quỹ Tấm lòng Việt để giúp đỡ phẫu thuật cho các bệnh nhi dưới 16 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn.

Với sự hỗ trợ của Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam, Bộ Thông tin và Truyền thông, chiến dịch nhắn tin ủng hộ sẽ được triển khai trong giai đoạn từ 15/5/2017 – 15/7/2017. Trước đó, chương trình "Trái tim cho em" đã phối hợp với Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam thực hiện 5 chiến dịch nhắn tin năm 2012, 2013, 2015 và 2016 kêu gọi cộng đồng ủng hộ số tiền hơn 10 tỷ đồng giúp phẫu thuật cứu sống gần 400 em nhỏ bị mắc bệnh tim bẩm sinh trên toàn quốc.

Chương trình "Trái tim cho em" do Đài Truyền hình Việt Nam và Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel tổ chức. Sau 9 năm triển khai, chương trình quyên góp được 120 tỉ đồng và hỗ trợ phẫu thuật thành công cho hơn 3.500 em nhỏ dưới 16 tuổi mắc bệnh tim bẩm sinh có hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên mỗi năm tại Việt Nam phát hiện thêm hàng chục ngàn trường hợp mắc bệnh tim bẩm sinh, chủ yếu xảy ra đối với các em có hoàn cảnh khó khăn. Với chi phí trung bình hơn 40 triệu đồng/ca phẫu thuật, bệnh tim luôn được xem là "bệnh nhà giàu" nhưng lại đeo bám những gia đình có hoàn cảnh khó khăn. Chính vì vậy hãy cùng gửi đi những tin nhắn để trao cho các em bé bị bệnh tim bẩm sinh cơ hội được cứu chữa và phát triển như bao bạn bè cùng trang lứa.

Bên cạnh hoạt động hỗ trợ phẫu thuật, chương trình "Trái tim cho em" còn phối hợp với các bệnh viện Tim mạch tổ chức gần 30 đợt khám sàng lọc bệnh tim bẩm sinh miễn phí cho gần 40.000 trẻ em nghèo của các tỉnh vùng sâu vùng xa nhằm phát hiện bệnh tim bẩm sinh sớm ở trẻ nhỏ để giúp các em được điều trị bệnh.

Nguồn: http://vtv.vn